Lan tỏa sức sống mới - Sức khỏe & Gia đình Blogs's

Dịch vụ khách hàng tại bệnh viện Pháp Việt

Môi trường thư thái dễ chịu và tinh thần thoải mái sẽ giúp bệnh nhân hồi phục nhanh chóng. Các dịch vụ khách hàng được mong đợi và được cung cấp tại một bệnh viện hiện đại cũng tương tự như các dịch vụ được cung cấp tại một khách sạn năm sao. Trưởng Phòng Dịch vụ Khách Hàng chịu trách nhiệm giám sát tất cả các hệ thống thông tin hành chính (tổng đài điện thoại, quầy thông tin, tài liệu thông tin, bàn tiếp tân, dịch vụ phiên dịch và nhân viên phụ trách nhập viện), các bảng hướng dẫn và trang trí nội thất, tổ chức phòng chờ và khu vực công cộng, phòng VIP, quan hệ khách hàng, phương tiện di chuyển và tất cả các dịch vụ khách sạn khác cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú như sau:
bệnh viện Pháp Việt
Bệnh viện Pháp Việt
Nhân viên quan hệ khách hàng
Ngay khi bạn nhập viện, nhân viên phòng Quan hệ Khách hàng của bệnh viện sẽ có mặt và hỗ trợ bạn kịp thời theo yêu cầu. Trong suốt thời gian bạn nằm viện, nhân viên bộ phận Quan hệ Khách hàng sẽ ghé thăm bạn ít nhất hai lần để trực tiếp thăm hỏi về tình hình, sự thoải mái của bạn và những yêu cầu khác, nếu có. Trong trường hợp cần thiết, với sự tham vấn của bác sĩ điều trị và nhân viên điều dưỡng, các vướng mắc của bạn sẽ được giải quyết kịp thời và hợp lý.

Nhân viên quan hệ khách hàng cũng sẵn sàng lắng nghe các khiếu nại hoặc các ý kiến đóng góp của bạn.

Nhân viên theo dõi quản lý khu vực điều trị nội trú
Nhân viên này chịu trách nhiệm quan sát và điều phối các hoạt động hỗ trợ y tế trong Bệnh viện Pháp Việt để bảo đảm cho mọi việc được vận hành suôn sẻ, đúng giờ và đúng trật tự. Các hoạt động bao gồm phục vụ phòng (cung cấp drap giường, dọn dẹp và giữ vệ sinh cho khu vực phòng bệnh và các khu vực công cộng), phục vụ ăn uống, các dịch vụ kỹ thuật (dịch vụ thông tin phục vụ cho nhu cầu của Bệnh viện Pháp Việt và bệnh nhân, dịch vụ truyền hình cáp, dịch vụ điện thoại, dịch vụ lắp đặt và bảo trì máy điều hòa…)

Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp các dịch vụ y tế và các dịch vụ cộng thêm với tiêu chuẩn cao nhất để đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe tốt nhất và đạt được sự hài lòng trọn vẹn của bệnh nhân. Đây chính là cam kết lâu dài của Bệnh viện Pháp Việt đối với bệnh nhân.

Thông tin cung cấp cho bạn
Chúng tôi khuyến khích bệnh nhân cùng tham gia vào quá trình điều trị bệnh của chính mình bằng cách hỏi và chia sẻ những thắc mắc với các bác sĩ và điều dưỡng trực tiếp điều trị. Bác sĩ điều trị sẽ giải thích cặn kẽ từng khía cạnh về tình trạng sức khỏe, chế độ chăm sóc và tất cả các bước xét nghiệm phải làm, đơn thuốc và hướng điều trị cho bệnh nhân (cũng như chi phí cho từng phần) trước khi thực hiện bất cứ việc điều trị nào.

Tôn trọng việc bảo mật thông tin
Sự riêng tư, phẩm giá và quyền tự do cá nhân của bệnh nhân được tôn trọng nghiêm ngặt trong suốt quá trình khám hay điều trị tại bệnh viện Pháp Việt. Tất cả thông tin về bệnh nhân đều được bảo mật và chỉ những người có trách nhiệm liên quan mới được chia sẻ những thông tin khi cần.

Dịch vụ thư tín
Bệnh viện Pháp Việt cung cấp dịch vụ thư tín cho bệnh nhân muốn duy trì liên lạc theo kiểu truyền thống. Nếu bạn muốn gởi thư, xin chuyển thư cho Thư ký khoa, từ thứ Hai đến thứ Sáu.

Tiện nghi ngoài trời
Không khí trong lành và ánh nắng mặt trời là những yếu tố quan trọng giúp bạn nhanh chóng hồi phục. Bạn và khách đến thăm có thể thư giãn tại sân vườn thiết kế đẹp mắt ở tầng ba. Ghế ngồi cũng được bố trí ngay trước cửa vào chính của bệnh viện. Xin mời ra ngoài tòa nhà của bệnh viện khi có nhu cầu hút thuốc.

Đóng góp ý kiến
Xin vui lòng liên hệ Trưởng Phòng Quan Hệ Khách Hàng nếu bạn có điều gì chưa hài lòng hoặc có đề nghị, than phiền gì về dịch vụ của bệnh viện. Tại FV, chúng tôi luôn nghiêm túc ghi nhận tất cả mọi ý kiến của bạn và định ra hướng giải quyết với thái độ tích cực và nhanh chóng.

Chúng tôi khuyến khích các cuộc đối thoại góp ý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong việc nỗ lực không ngừng để cung cấp các dịch vụ y tế và các dịch vụ khác ở tiêu chuẩn cao cấp nhất. Xin vui lòng gọi trực tiếp cho Trưởng Phòng Quan Hệ Khách Hàng của chúng tôi theo số (84-8) 5411 34 56 nếu bạn có bất kỳ góp ý nào.
Read more…

Chính sách bác sĩ cộng tác bệnh viện FV

Các chính sách của Bệnh viện FV được xây dựng nhằm đóng góp vào sự phát triển chung của nền y học Việt Nam. Với mục đích này, chương trình “Bác sĩ cộng tác với Bệnh viện FV” được khởi xướng nhằm tạo điều kiện cho các bác sĩ Việt Nam làm việc và hợp tác với Bệnh viện FV thông qua nhiều hình thức.
Bác sĩ hợp tác bệnh viện FV
Bác sĩ cộng tác
Đây là các bác sĩ hiện đang làm việc tại nơi khác và được mời đến tư vấn khám bệnh tại bệnh viện FV. Chúng tôi dành vị trí này cho các bác sĩ nổi tiếng người Việt Nam.

Bác sĩ Hợp tác
Bác sĩ Hợp tác không làm việc tại Bệnh viện FV nhưng có quyền chỉ định bệnh nhân của mình nhập viện tại FV và sử dụng các trang thiết bị của bệnh viện để điều trị, phẫu thuật và hỗ trợ các ca sanh nở cho bệnh nhân của mình. Bác sĩ hợp tác được các nhân viên của bệnh viện FV hỗ trợ, gồm nhân viên phòng Phát triển Dịch vụ Y khoa thư ký y khoa, nhân viên phòng phẫu thuật, ê kíp gây mê và các bác sĩ chuyên khoa của bệnh viện FV. Các bác sĩ được mời hợp tác với bệnh viện FV dựa trên uy tín của họ trong cộng đồng y khoa Việt Nam. Nhân viên phòng Phát triển Dịch vụ Y khoa sẽ hỗ trợ các bác sĩ sắp xếp lịch phẫu thuật, hỗ trợ bệnh nhân nhập viện, đồng thời hoàn tất các thủ tục hành chính. Các bác sĩ hợp tác khi hành nghề y tại bệnh viện FV đều được bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Họ và các thành viên trong gia đình đều có thể tham gia chương trình bảo hiểm y tế Vietnam Care của bệnh viện FV. Đây cũng là một trong những phúc lợi mà bệnh viện FV dành cho tất cả nhân viên.

Bác sĩ Giới thiệu bệnh 
Bác sĩ Giới thiệu bệnh không làm việc tại bệnh viện FV. Họ thường giới thiệu bệnh nhân đến Bệnh viện FV để làm các yêu cầu tầm soát (chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hóa) hay thực hiện các thủ thuật như nội soi, tán sỏi hoặc gửi bệnh nhân đến bác sĩ bệnh viện FV để khám bệnh, chỉ định nhập viện và điều trị nội, ngoại khoa hoặc ung thư. Sau khi điều trị, Bệnh viện FV sẽ gửi kết quả, hồ sơ bệnh án kịp thời cho bác sĩ giới thiệu bệnh, đồng thời chuyển bệnh nhân về tiếp tục điều trị với bác sĩ giới thiệu bệnh.

Phòng Phát Triển Dịch Vụ Y khoa 
Phòng Phát Triển Dịch Vụ Y khoa hoạt động như một trung tâm điều phối, hỗ trợ các bác sĩ giới thiệu bệnh và bác sĩ hợp tác cũng như bệnh nhân trong việc đăt hẹn khám bệnh, trả lời các thắc mắc, khám tiền mê cho các ca phẫu thuật, tư vấn và hoàn tất thủ tục nhập viện, sắp xếp lịch nằm viện, lịch phẫu thuật… Để liên hệ, bạn vui lòng gọi số: (84-8) 54 11 34 20; Fax: (84-8) 54 11 34 13.

Quyền lợi dành cho các bác sĩ tham gia chương trình “Bác sĩ cộng tác với bệnh viện FV" 
Hưởng thù lao và các khoản tiền thưởng 
Nhận bản tin “Thông tin Y Khoa và Sức Khỏe” và bản tin "What's up, Doc?" dành riêng cho các bác sĩ của bệnh viện FV 
Được cập nhật tất cả các chương trình ưu đãi của bệnh viện FV dành cho bệnh nhân 
Được mời tham dự miễn phí các hội thảo, hội nghị chuyên đề do bệnh viện FV tổ chức 
Được đào tạo nâng cao chuyên môn 
Được mời tham dự các cuộc hội thảo ở nước ngoài 
Được tham gia các hoạt động và sự kiện xã hội do FV tổ chức hoặc tài trợ 
Được truy cập thư viện y khoa của bệnh viện FV
Read more…

Viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một dạng bệnh viêm của khớp, là nguyên nhân gây đau và tổn thương khớp. Bệnh thường tấn công vào màng của các khớp xương gây ra sưng, dẫn đến đau, nhói và cuối cùng làm biến dạng khớp.

Các triệu chứng viêm khớp dạng thấp có thể làm ảnh hưởng cả những hoạt động đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày như đi bộ. Tuy không có cách chữa đặc hiệu cho bệnh viêm khớp dạng thấp, song với việc điều trị thích hợp một chiến lược bảo vệ và thay đổi trong lối sống tốt, bạn có thể sống một cuộc sống lâu dài với nó.
Viêm khớp dạng thấp
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
Viêm khớp dạng thấp xảy ra khi các tế bào bạch cầu có chức năng chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và virút di chuyển từ máu vào trong màng bao quanh khớp. Các tế bào bạch cầu này xuất hiện và gây ra phản ứng viêm tại khớp do việc tạo ra các chất gây viêm như TNF-alpha, protein. Theo năm tháng, tình trạng viêm đó sẽ làm tổn thương sụn, xương, gân và dây chằng ở gần khớp và dần dần làm biến dạng khớp. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác có thể tác động lên tình trạng phát triển bệnh như yếu tố di truyền, lối sống, hoàn cảnh môi trường, hút thuốc lá và do virút.

Các yếu tố của bệnh này gồm:
- Giới nữ thường có tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp hơn ở nam giới 2 -3 lần.
- Thường xảy ra ở độ tuổi 40 - 60.
Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hoặc tuổi già.
- Nếu như trong gia đình có người bị viêm khớp dạng thấp thì càng làm tăng nguy cơ mắc bệnh, tuy không có bằng chứng ghi nhận có sự lây bệnh trực tiếp.
- Hút thuốc lá là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Việc nhanh chóng bỏ thuốc lá sẽ làm giảm nguy cơ.

Triệu chứng và các xét nghiệm
Triệu chứng bệnh: cứng khớp vào buổi sáng kéo dài ít nhất 30 phút; đau - sưng khớp nhất là khi chạm vào. Các dấu hiệu và triệu chứng thường xuất hiện trước nhất ở các khớp nhỏ, nhiều khớp cùng một lúc như khớp cổ tay, bàn tay, mắt cá chân và bàn chân. Khi bệnh tiến triển có thể đau ở các khớp vai, khuỷu tay, đầu gối, hông, xương hàm và cổ. Các dấu hiệu của một cơn viêm khớp dạng thấp có thể biểu hiện khác nhau từ mức độ thoáng qua tới mức độ nghiêm trọng. Thời kỳ bùng phát của bệnh tăng lên thường có dấu hiệu sưng, đau, làm người bệnh khó ngủ và dần yếu hoặc các dấu hiệu biến mất đi khi cơn viêm đi qua.

Việc chẩn đoán bệnh viêm khớp thường được thực hiện đầu tiên qua việc thăm khám. Bác sĩ sẽ hỏi một số dấu hiệu và triệu chứng để gợi ý bệnh và tiến hành khám các khớp xương.

Việc thực hiện các xét nghiệm nhằm mục đích làm rõ các vấn đề:
- Thử máu nhằm truy tìm các kháng thể hình thành do tình trạng viêm khớp gây ra như: anti-CCP (anticyclic citrullinated peptide) hay yếu tố khớp (RF – rheumatoid factor). Những trường hợp viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm, sự xuất hiện của RF và anti - CCP trong máu tiên lượng đến tình tạng gia tăng tổn thương khớp. Tuy nhiên, RF và anti – CCP cũng có thể xuất hiện trong một số bệnh lý viêm nhiễm mãn tính như lao tiến triển hoặc bệnh khớp tự miễn như lupus ban đỏ hay hội chứng Sjogren.
- Phân tích dịch khớp: rất có vai trò trong việc chẩn đoán và điều trị.
- X-quang khớp: nhằm đánh giá và khảo sát sự biến dạng cũng như tình trạng tổn thương của khớp bị viêm.

Các phương pháp điều trị
Không có điều trị đặc hiệu cho bệnh viêm khớp dạng thấp, việc điều trị chỉ nhằm mục đích giảm tình trạng viêm của khớp và dự phòng làm chậm quá trình tổn thương khớp. Điều trị giai đoạn sớm làm giảm nguy cơ người bệnh bị tổn thương các khớp. Thông thường việc điều trị chủ yếu là dùng thuốc, song đôi khi cần phải kết hợp với phẫu thuật trong một số trường hợp có biến dạng khớp nặng.

Thuốc:
- Nhóm khám viêm không steroid (NSAIDs): giúp giảm đau và làm giảm tình trạng viêm. Tuy nhiên chúng sẽ có những tác dụng phụ khi dùng liều cao và kéo dài như ù tai, loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, tổn thương ganthận hoặc những vấn đề lên hệ tim mạch. Khi dùng NSAIDs nếu dùng rượu bia càng làm cho các tác dụng phụ dễ xảy ra hơn.

- Nhóm steroid: giúp làm giảm viêm, đau và làm chậm sự tổn thương khớp. Việc sử dụng steroid trong thời gian ngắn có thể làm bệnh nhân cảm thấy tốt hơn về bệnh nhưng việc sử dụng lâu dài theo năm tháng có thể sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc và mang lại nhiều tác dụng không mong muốn như ù tai, mỏng xương, sụt cân và dễ mắc bệnh đái tháo đường.

- Nhóm thuốc tác động lên khớp (DMARDs): hydroxychloroquine, sulfasalazine, minocycline hay methotrexate thường dùng vào giai đoạn sớm khi ảnh hưởng của bệnh lên khớp chưa nhiều và thuốc giúp cứu lấy các mô khớp còn lại.

- Nhóm thuốc ức chế miễn dịch: tác động lên hệ miễn dịch của cơ thể nhằm tấn công và loại bỏ những bào có liên quan gây ra bệnh. Một số thuốc thường dùng như leflinomide, azathioprine, cyclosporine, cyclophosphamide.

- Nhóm ức chế TNF-alpha: như cytokine hoặc tế bào protein hoạt động như tác nhân kháng viêm làm giảm đau, sưng khớp, cứng khớp vào buổi sáng. Tuy nhiên, việc dùng nhóm ức chế TNF-alpha có thể dẫn tới một số tác dụng không mong muốn như làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, nhiễm lao hoặc nấm hay rối loạn máu.

Phẫu thuật:
Nếu như việc dùng thuốc không đem lại hiệu quả như mong muốn và làm biến dạng khớp nhiều thì việc chỉ định phẫu thuật nhằm sửa chữa khớp hay làm giảm đau sẽ được xét tới. Việc chỉ định phẫu thuật nên được xem xét bởi các bác sĩ chuyên gia về chỉnh hình khớp.
Read more…

Không nên xem thường bệnh ù tai

Ù tai là nguồn gốc của các biến chứng mỏi mệt, khó ngủ, mất tập trung, rối loạn trí nhớ, dễ kích thích, trầm cảm… gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống thường ngày.

Ù tai là cảm giác về thính giác xuất phát tự bên trong tai mà chỉ mỗi mình bạn tiếp nhận được, ngoài những âm thanh vốn dĩ đến thường xuyên từ bên ngoài tai.
bệnh ù tai
Bệnh ù tai
Nghe thấy tiếng rít, vo ve… trong tai
Tiếng ù trong tai có thể là tiếng vo vo, tiếng rít, tiếng leng keng, tiếng lách cách, tiếng reng điện thoại, tiếng sóng… xảy ra từng đợt hay liên tục, không theo chủ quan, làm bạn căng thẳng mệt mỏi mà không có cách nào để chấm dứt ngay được. Tiếng ù trong tai được người bệnh mô tả cho bác sĩ rất đa dạng, ghi nhận có trên 50 kiểu âm thanh khác nhau.

Ù tai tự nó không phải là một bệnh mà là triệu chứng của một nguyên nhân cơ bản nào đó gây hậu quả lên hoạt động của cơ thể và đưa đến ù tai. Ù tai có thể xảy ra ở một hay hai tai, xuất hiện đúng thời gian hay bất kỳ lúc nào, có thể chỉ xảy ra trong chốc lát, có thể ngày một nặng hơn, một số ù tai trở nên mạn tính và là nguồn gốc của các biến chứng như mỏi mệt, khó ngủ, mất tập trung, rối loạn trí nhớ, dễ kích thích, trầm cảm… gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống thường ngày. Nói chung, cơn ù tai hết tương đối nhanh.

Ngoài ra, ù tai có thể đi kèm với các triệu chứng khác như nặng tai, đau trong hay quanh tai, chóng mặt, đi đứng không vững… Tuy vậy, đôi khi ù tai chỉ xảy ra đơn độc. Về thính lực, mặc dù ù tai không làm giảm thính lực nhưng cũng có thể đi kèm với giảm thính lực hay tăng thính lực ở một số bệnh nhân. Tăng thính lực xảy ra ở khoảng 40% bệnh nhân, với biểu hiện dễ nhạy cảm hay đau khi nghe những âm thanh lớn.

Ù tai thường giảm vào ban ngày do người bệnh chịu ảnh hưởng của những âm thanh khác đến từ xung quanh, nhưng khi về đêm hay khi ở nơi yên ắng thì tiếng ù trong tai sẽ trở nên rất lớn. Mức độ nặng và tần suất xảy ra ù tai phụ thuộc vào các yếu tố như stress, chế độ ăn và tiếng ồn. Cuối cùng, tiếng ù có thể trở nên lớn đến mức người bệnh không còn nghe được những âm thanh khác từ bên ngoài nữa.

Nguyên nhân
Do ù tai là triệu chứng gặp trong rất nhiều bệnh khác nhau nên rất khó xác định nguyên nhân chính xác của ù tai. Có rất nhiều các nguyên nhân gây ù tai, thường gặp hoặc ít gặp: nút ráy tai, lão thính, tiếp xúc tiếng ồn thường xuyên, tiền sử chấn thương đầu cổ, chấn thương vặn cổ, bệnh lý vùng tai mũi họng (tai giữa, vòi nhĩ, vòm, viêm mũi xoang, viêm họng, bệnh trào ngược dạ dày - thực quản…).

Bên cạnh đó cũng có thể do người bệnh sử dụng các loại thuốc độc gây hại cho tai ở liều cao như aspirin… (hiện nay có khoảng 200 loại thuốc độc cho tai đã ghi nhận)

Đôi khi do stress tâm lý hay thể xác (ví dụ sau phẫu thuật...), u dây thần kinh VIII, các bệnh lý của thần kinh tiền đình hay của các vùng não tiếp nhận tiếng động, rối loạn khớp hàm, thoái hóa cột sống cổ, xốp xơ tai (xơ cứng chuỗi xương con trong tai giữa), phình động mạch cảnh, bệnh lý mạch máu gây ù tai dạng mạch đập (xơ vữa động mạch, cao huyết áp, rò động-tĩnh mạch lân cận)… cũng gây nên ù tai.

Cơ chế gây nên tiếng ù trong tai đã được giải thích bằng nhiều giả thuyết khác nhau, trong đó một giả thuyết được chấp nhận là: ù tai đi kèm với giảm thính lực là do tổn thương của cơ quan ốc tai, cụ thể là các tế bào lông ngoài, dẫn đến xuất hiện lặp đi lặp lại các kích thích thính giác.

Điều trị
Điều trị ù tai tùy theo mức độ nặng, nhẹ và các triệu chứng kèm theo. Điều trị theo nguyên nhân khi xác định được nguyên nhân của ù tai. Tuy nhiên, khi chỉ có triệu chứng ù tai đơn thuần thì biện pháp điều trị thường là tập cho bệnh nhân “sống chung” với tiếng ù trong tai.

Có nhiều biện pháp nhằm làm giảm độ lớn của tiếng ù cũng như tăng sức chịu đựng cho bệnh nhân: Tránh những yếu tố kích thích có thể làm nặng thêm ù tai như tiếng ồn, rượu, nicotine, caffein, nước có chứa quinine và hạn chế dùng aspirin. Nicotine và caffeine làm co mạch gây tăng tốc độ máu chảy đưa đến tăng tiếng ù; rượu gây dãn mạch làm tăng lượng máu đến tai trong. Nếu làm việc trong môi trường ồn ào, cần mang dụng cụ bảo vệ tai để tránh làm nặng thêm tình trạng ù tai sẵn có.

Khi ở môi trường yên tĩnh tiếng ù có thể lớn hơn do không bị sao nhãng bởi các âm thanh bên ngoài. Do đó, chúng ta có thể giúp người bệnh tạo ra những âm thanh dễ chịu như tiếng nhạc êm dịu hay có thể dùng máy tạo tiếng động để tạo ra tiếng nước chảy, tiếng sóng, hay tiếng mưa rơi… để che lấp bớt tiếng ù. Đeo máy trợ thính cũng giúp làm giảm bớt tiếng ù bằng cách tăng âm cho những tiếng động bên ngoài. Các biện pháp giảm bớt stress như thư giãn, yoga, bơi lội, massage, đi bộ, ngủ đủ giấc… cũng giúp hạn chế tiếng ù tai nặng lên.
Read more…

Thực phẩm chống viêm khớp

Một số thực phẩm sau đây có thể giúp bạn ngăn ngừa hoặc vượt qua chứng viêm khớp dễ dàng, theo các chuyên gia dinh dưỡng Canada.

Thực phẩm giàu a-xít béo omega-3
Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những ai thường ăn cá chứa nhiều dầu dường như ít bị viêm sưng khớp và ít đau đớn hơn so với những người không ăn cá. Có thể do các a-xít béo omega-3 trong cá nhiều dầu giúp kích thích sản sinh resolvin - một loại chất béo có đặc tính chống viêm sưng. Đây quả là tin vui cho những người bị viêm khớp xương mạn tính.

Thực phẩm giàu chất chống ô-xy hóa
Các nhà nghiên cứu từng có thời gian dài nghi ngờ rằng, các phân tử gốc tự do - vốn là các phân tử không ổn định tấn công tế bào khỏe mạnh - góp phần gây viêm khớp. Và nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Nhật Bản đã khẳng định điều này. Theo đó, các phân tử gốc tự do phá hoại khả năng duy trì và phục hồi của sụn. Những ai bị viêm khớp có xu hướng có nhiều phân tử gốc tự do hơn và do đó, họ cần bổ sung các chất chống ô-xy hóa nhiều hơn, đặc biệt là vitamin C và beta-carotene, từ thực phẩm. Vitamin C có nhiều trong cam, quả kiwi, và zeaxanthin - một chất chống ô-xy hóa - được tìm thấy trong các loại rau xanh rậm lá cũng giúp giảm nguy cơ bị viêm khớp.
trà xanh chống viêm khớp
Trà xanh chống viêm khớp
Giảm nguy cơ viêm khớp nhờ các loại rau xanh rậm lá
Nước ép từ quả lựu
Bạn bị đau đầu gối, và cả tay, hông? Hãy thử dùng nước ép lựu vì loại nước này chứa nhiều chất chống ô-xy hóa, có đặc tính chống viêm sưng. Nước ép lựu thật sự giúp bảo vệ sụn, theo các chuyên gia.
Sau khi thêm một ít chất chiết xuất từ quả lựu lên các mẫu mô sụn bị mòn, hư hỏng do viêm khớp, các nhà nghiên cứu tại Đại học Case Western Reserve (Mỹ) nhận thấy rằng: nước lựu ép giúp giảm lượng hóa chất gây viêm sưng ở sụn.

Gia vị chống viêm
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện được nhiều gia vị chống viêm. Gừng và nghệ có chứa một hợp chất gọi là curcumin, có tác dụng ức chế các loại enzym và protein kích thích chứng viêm sưng. Nhiều nghiên cứu cho kết quả, gừng và nghệ giúp giảm đau và sưng ở những người bị viêm khớp; chứa nhiều chất chống ô-xy hóa giúp trì hoãn các tổn hại ở sụn và xương do chứng viêm khớp gây ra.

Trà xanh
Một số cuộc nghiên cứu ở động vật cho thấy, trà xanh có thể giúp ngừa hoặc giảm bớt các triệu chứng viêm khớp. Và theo kết quả một cuộc nghiên cứu của Mỹ, phụ nữ uống hơn 3 tách trà xanh mỗi ngày giảm được 60% nguy cơ mắc bệnh viêm khớp so với phụ nữ không uống trà.
Read more…

Thoái hoá khớp: Nguyên nhân và cách điều trị

Bệnh thoái hoá khớp (còn gọi là bệnh hư khớp) là một bệnh mạn tính, gây thoái hoá và biến dạng khớp do sự phá huỷ sụn khớp và hệ thống bao khớp - dây chằng, thường gặp ở các khớp chịu sức nặng của cơ thể.

Các thể bệnh hư khớp
Thoái hoá khớp có thể nguyên phát hoặc thứ phát.
thoái hóa khớp
Thoái hóa khớp
Thoái hoá khớp nguyên phát do lão hoá của mô khớp, hoặc do sụn khớp được tưới máu và nuôi dưỡng kém,… dẫn đến mất tính đàn hồi và khô cứng. Khi hoạt động, sụn chạm vào đầu xương, gây hoại tử ở nơi chịu áp lực mạnh nhất. Bệnh này chỉ gặp ở người trên 40 tuổi.

Khác với thoái hoá khớp nguyên phát, thoái hoá khớp thứ phát thường do sự lão hoá sớm của sụn khớp, xuất hiện sau chấn thương làm tổn thương diện khớp, hoặc từ những chấn thương nhỏ nhưng tác động nhiều lần, khớp hoạt động quá tải; do di chứng của viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm đa khớp dạng thấp…

Những người béo phì cũng thường mắc chứng hư khớp do quá nặng cân, các khớp luôn trong tình trạng bị sức ép lớn. Những thể thứ phát này thường trầm trọng hơn những thể nguyên phát. Ngoài ra, những yếu tố về thời tiết, khí hậu… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh xuất hiện.

Thoái hoá khớp nguyên phát ở các khớp được xếp theo thứ tự “ưu tiên” như sau: Khớp liên đốt sống (trên dưới 50% các trường hợp), khớp gối (13%), khớp háng (8%), khớp liên đốt ngón tay (6%) và các khớp khác (20%).

Tổn thương ở khớp bắt đầu từ những hoại tử của sụn khớp, sau đó là sự phá huỷ hệ thống trượt ở những vùng tỳ đè của xương dưới dạng một dải xơ và đường viền xung quanh khớp, các gai xương ở ngoại vi khớp. Bao hoạt dịch dày lên, hình thành những đường vân, có thể sụn hoá. Sụn hoá của bao hoạt dịch rơi vào ổ khớp gây cản trở cho hoạt động của khớp. Các xơ co kéo gây nên tình trạng cứng khớp.

Bệnh thoái hoá khớp nguyên phát hay gặp ở người 40-50 tuổi, và ở phụ nữ sau khi mãn kinh, nhưng điều nguy hiểm là thoái hoá khớp hầu như không có triệu chứng. Các dấu hiệu chỉ xuất hiện khi xương và hệ thống bao khớp hoạt dịch bị tổn thương thực sự. Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm với những giai đoạn được cải thiện theo cảm nhận chủ quan. Thể điển hình, người bệnh đau khớp vào buổi sáng, sau khi ngủ dậy; đau giảm sau khi khớp được hoạt động và hết đau khi nghỉ ngơi. Khớp không sưng và không có các dấu hiệu toàn thân.

Khi khám, phát hiện các dấu hiệu: Hạn chế cử động, các cơ chi phối hoạt động của khớp bị teo và co cứng tăng trương lực; có tiếng lục cục trong khớp khi cử động; có thể sờ thấy đường viền khớp và gai xương. Xét nghiệm cho thấy: Hoạt dịch trong, quánh, chứa dưới 3.000 bạch cầu/1mm3; và dưới 25% là bạch cầu đa nhân trung tính; tốc độ máu lắng bình thường; chụp Xquang không có sự tương xứng giữa triệu chứng chủ quan và những tổn thương trên phim.

Tuỳ theo giai đoạn có thể thấy hình ảnh hẹp khe khớp với sự phá huỷ một phần hay hoàn toàn sụn khớp, ăn mòn diện khớp ở vùng tỳ đè.

Các dấu hiệu của loãng xương cũng có thể được phát hiện nếu sử dụng những phương pháp đặc biệt để phát hiện sớm các tổn thương của khớp, như: chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, soi ổ khớp…

Chẩn đoán thoái hoá khớp dựa vào những yếu tố, như: Đau khớp tăng khi hoạt động và giảm khi nghỉ ngơi; không có triệu chứng toàn thân như sốt…; những dấu hiệu viêm tại chỗ rất ít hoặc không có; dịch ổ khớp không có biểu hiện viêm, không có mủ; chụp Xquang thấy hẹp khớp, ăn mòn diện khớp…

Cần lưu ý phân biệt thoái hóa khớp với viêm đa khớp dạng thấp: Viêm khớp tại chỗ rất rõ (sưng, nóng đỏ, đau), dịch ở khớp biểu hiện viêm; tốc độ lắng máu tăng…

Điều trị?
Nhìn chung tổn thương ổ khớp do hư khớp là không thể thay đổi nhưng tiến triển chậm. Ở những khớp chưa cứng hoàn toàn, việc điều trị có thể giảm được nhưng cản trở chức năng.

Thoái hoá khớp có thể điều trị bằng hai phương pháp:
- Điều trị nội khoa: Ở giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, tránh tất cả những hoạt động gây đau. Dùng vật lý trị liệu để làm tăng tưới máu tại chỗ cho khớp.

Trong giai đoạn đau khớp cấp, bất động khớp, thậm chí bó bột là điều rất cần thiết (chỉ nên bất động trong thời gian ngắn để tránh cứng khớp). Ngay sau khi hết đau cấp, phải tập vận động khớp nhẹ nhàng, phù hợp.

Để dự phòng những tư thế xấu (khớp gối vẹo vào trong hoặc quay ra ngoài), hoặc để giảm đau, có thể sử dụng các loại: Băng, nịt, nẹp, khung đỡ,… hay đơn giản như là một chiếc gậy, một chiếc nạng nếu bị hư khớp chi dưới. Sử dụng thuốc, những thuốc cơ bản là thuốc chống viêm giảm đau, như aspirin và thuốc không có steroid (ibuprofen, diclofenac, indometacin…). Những thuốc an thần, đặc biệt nhóm diazepam có thể sử dụng trong trường hợp đau do co cơ, hoặc người bệnh quá lo lắng, nhưng không được dùng dài ngày vì dễ gây nghiện.

- Điều trị ngoại khoa: Có ba loại phẫu thuật được áp dụng: Đó là, phẫu thuật dự phòng nhằm lập lại tình trạng bình thường các khớp có nguy cơ bị thoái hoá như trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…; Phẫu thuật bảo tồn khi khớp chưa bị hư hỏng nặng, có thể sửa chữa đưa về điều kiện cơ học của chức năng bình thường; Và phẫu thuật thay thế trong trường hợp khớp quá hư hỏng, không thể phục hồi được, có thể thay thế từng phần, thậm chí toàn bộ khớp bằng khớp nhân tạo.
Read more…

Cách phòng và điều trị thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống

Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh.

Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp
Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:
thoái hóa khớp
Thoái hóa khớp
Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.

Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp
Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được.

Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:
- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.
Read more…